Bỏ qua để đến nội dung

Container Docker

Mục Docker của một server xuất hiện khi Docker đã được cài. Trang đầu tiên của mục này liệt kê các container. Portway chạy lệnh docker trên server, nên hiển thị đúng những gì docker ps và docker inspect báo cáo.

Danh sách container được gom theo dự án Compose shop và theo container lẻ, với trạng thái, các cổng được đánh dấu là công khai, CPU và RAM, cùng bảng chi tiết của container đang chọn.
Hình 1. Danh sách container.

Các container được gom theo dự án Compose, tiếp theo là nhóm Container lẻ cho những container được chạy bằng docker run. Tiêu đề mỗi nhóm đếm số container đang chạy.

Cột Nội dung
Container Tên, chính sách restart và image
Trạng thái Trạng thái và, khi container có health check, kết quả của nó
Cổng (host → container) Các cổng được publish. Cổng mở trên mọi địa chỉ được đánh dấu công khai
CPU % và RAM Mức dùng hiện tại. CPU được hiển thị so với số nhân

Các giá trị trạng thái gồm Đang chạy, Đang chạy · healthy, Đang chạy · unhealthy, Đã chạy xong cho job chạy một lần, Đã dừng · exit N, Lỗi · exit N và Khởi động lại liên tục · N lần. Dấu hiệu khởi động lại liên tục giúp tìm các container khởi động rồi lại sập lặp đi lặp lại.

Cổng mở trên mọi địa chỉ được đánh dấu kèm lời giải thích. Docker tự thêm rule iptables của nó, nên ufw không chặn được cổng như vậy. Cơ sở dữ liệu hoặc cache nên được gắn vào 127.0.0.1. Bài Firewall hướng dẫn cách sửa.

Chọn một dòng để mở bảng bên phải. Bảng hiển thị trạng thái và health check, các cổng, các volume đã gắn, biến môi trường, số lần restart, lệnh và thời điểm tạo. Giá trị biến môi trường bị ẩn cho đến khi bấm vào, vì chúng thường chứa bí mật.

Hành động Tác dụng
Log Mở trình xem log của container
Terminal Mở một terminal trên máy tính này chạy docker exec -it trong container
Khởi động lại Khởi động lại container
Dừng Dừng container
Chạy và Chạy lại Chạy một container đã dừng, hoặc chạy lại một job chạy một lần
Mở tunnel tới cổng Tạo một tunnel tới một cổng đã publish

Khởi động lại, dừng và chạy lại đều yêu cầu xác nhận. Hộp thoại nêu vai trò của container, ví dụ một cơ sở dữ liệu, và cảnh báo rằng các container phụ thuộc có thể lỗi trong lúc nó khởi động lại. Việc chạy lại một job cảnh báo rằng tác vụ chạy với cùng image và biến môi trường, nên phải an toàn khi lặp lại.

Trình xem log của container shop-api-1 với các bộ lọc Tất cả, Cảnh báo + lỗi, Lỗi, ô lọc chữ, nút Theo dõi trực tiếp và các dòng log.
Hình 2. Trình xem log của một container.

Trình xem hiển thị 300 dòng gần nhất kèm dấu thời gian. Các bộ lọc thu hẹp các dòng theo cảnh báo và lỗi hoặc theo lỗi, còn ô lọc chữ khớp với mọi đoạn chữ. Theo dõi trực tiếp chuyển các dòng mới khi container đang chạy, và Mở trong Terminal tiếp tục trong một terminal. Với container không chạy, chỉ có log cũ.

  • Docker chưa được cài. Trang nêu điều này và hiển thị script cài đặt chính thức.
  • User không thuộc nhóm docker. Trang giải thích rằng không đọc được /var/run/docker.sock và đề nghị dùng kết nối root. Bật sudo cũng được.
  • Daemon không chạy. Trang đề nghị khởi động docker.service. Container có chính sách restart always hoặc unless-stopped sẽ chạy theo.